Có lý do lo ngại Biển Đông sẽ tiếp tục căng thẳng

Tiến sĩ Trần Trường Thủy, Giám đốc Quỹ Hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông, khẳng định rằng Trung Quốc là thành viên UNCLOS nên các phán quyết sắp tới của Tòa Trọng tài Thường trực LHQ (PCA) có tính ràng buộc pháp lý với nước này, cho dù họ không công nhận thẩm quyền của tòa. Tiếp theo, ông nói kỹ hơn về những động thái của Trung Quốc, và cũng dự báo rằng tình hình Biển Đông sẽ tiếp tục căng thẳng sau phán quyết.

 

Kỷ 1: Phán quyết ràng buộc pháp lý với Philippines và cả Trung Quốc

 

 

Tiến sĩ Trần Trường Thủy (ngoài cùng bên trái) tại Hội thảo Biển Đông lần thứ 5 do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế Mỹ (CSIS) tổ chức.

 

Vậy còn việc TQ dọa rút khỏi UNCLOS nếu phán quyết bất lợi cho họ?



TQ rút khỏi UNCLOS thì hoàn toàn không ảnh hưởng gì đến giá trị pháp lý của các phán quyết. Công ước luật biển cho phép các bên được rút nhưng sau khi nộp tuyên bố thì phải mất một năm sau quốc gia đó mới hết quyền và nghĩa vụ liên quan. Do đó, nếu TQ rút khỏi Công ước sau khi có phán quyết sẽ không làm mất đi các nghĩa vụ mà họ phải thực hiện theo phán quyết của Tòa trọng tài. 


 

TQ có rút khỏi UNCLOS hay không chắc chắn họ phái tính toán hơn thiệt. Cá nhân tôi nghĩ là có thể bị thiệt nhiều hơn là lợi, cả trong ngắn hạn và dài hạn. Không chỉ về mặt chính trị mà về mặt pháp lý và trên thực tế. Ví dụ họ sẽ  không được quyền khai thác tài nguyên vùng đáy biển nằm ngoài 200 hải lý, không thể tham gia vào các cơ chế được thành lập theo UNCLOS như Tòa án luật biển hay Ủy ban đáy đại dương – là những có quan mà TQ đang có đại diện. Mục đích chính của việc rút khỏi UNCLOS là để khỏi bị nước khác kiện, tuy nhiên như tôi nói ở trên, kể cả khi một nước tuyên bố rút khỏi UNCLOS thì một năm sau mới có hiệu lực và trong thời gian này các nước khác vẫn có thể kiện nước đó ra tòa.  Ngoài ra đa số các quy định của UNCLOS đã là luật tập quán quốc tế, các nước có phải thành viên hay không cũng phải thực thi. 

 

 
Việc TQ vận động dư luận, chia rẽ ASEAN có thể tác động đến Tòa hay không?



TQ đang triển khai mạnh về tuyên truyền, chẳng hạn họ tác động để ASEAN không ra tuyên bố chung, tác động để các nước ở kháp các châu lục lên tiếng ủng hộ TQ, phản đối tòa quốc tế, ủng hộ cách tiếp cận đàm phán song phương, tuyên truyền tính bất hợp pháp của tòa. 



Nhưng phiên tòa theo đúng quy trình của UNCLOS nên lập luận này không đứng vững. Thực tế trong hơn 60 nước mà TQ nói là ủng hộ họ, chỉ có bằng chứng 9 nước công khai ủng hộ cách tiếp cận của Trung Quốc, các nước còn lại, một số nước công khai phủ định tuyên bố của Trung Quốc, đa số đều không có công khai thông tin, thông tin ủng hộ chỉ do TQ một chiều đưa ra. Chiến dịch này của TQ thể hiện họ đang lo ngại cộng đồng quốc tế nói chung ủng hộ biện pháp đưa ra tòa và tuân thủ phán quyết. Dư luận đang thành 2 luồng. Một luồng lo ngại luật pháp quốc tế bị ảnh hưởng, kêu gọi tuân thủ luật pháp quốc tế, ủng hộ giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình; luồng bên kia ủng hộ cách tiếp cận của TQ. Theo tôi điều đó không ảnh hưởng đến nội dung phán quyết của Tòa trọng tài vì họ chủ yếu xem xét dựa theo quy định của luật, thực tiễn các án lệ và nhất là bằng chứng, lập luận của các bên đưa ra. Việc TQ có tuân thủ phán quyết hay không sẽ phụ thuộc vào bản thân nội dung phán quyết và dư luận quốc tế.



Bình luận của nhiều chuyên gia quốc tế cho rằng tình hình Biển Đông sẽ căng thẳng hơn sau phán quyết của Tòa. Xin cho biết ý kiến của ông?



Có lý do để lo ngại tình hình có thể sẽ tiếp tục căng thẳng. Trong ngắn hạn, nếu phán quyết có lợi cho Trung Quốc, nước này có thể “thừa thắng xông lên”. Nếu phán quyết bất lợi cho Trung Quốc, để giữ thể diện và thể hiện tính nhất quán, Trung Quốc có thể có các bước đi nhằm thể hiện thông điệp phớt lờ phán quyết của tòa. Chẳng hạn, một số chuyên gia đã dự đoán khả năng các hoạt động như lập Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ), cải tạo bãi Scarbourough, quân sự hóa Biển Đông, lập đường cơ sở cho quần đảo Trường Sa, hay đẩy Philippines ra khỏi bãi Cỏ Mây. Philippines có thể có các bước đi để thể hiện quyền của mình trong vùng đặc quyền kinh tế hay bãi Scarborough. Mỹ có thể có các bước đi mới gây sức ép buộc Trung Quốc tuân thủ phán quyết và không làm phức tạp tình hình như thực thi hoạt động tự do hàng hải qua 12 hải lý bãi Vành Khăn – là bãi nhiều khả năng Tòa sẽ tuyên bố là bãi lúc nổi lúc chìm không ai được đòi chủ quyền.

 

Trong dài hạn, như tôi nói ở trên, trong trường hợp phán quyết làm rõ ràng phạm vi tranh chấp và quyền, nghĩa vụ các bên liên quan thì sẽ làm giảm các “cơ sở pháp lý” của các hoạt động vi phạm rõ ràng luật pháp quốc tế, qua đó có thể làm giảm một số động lực của các hoạt động gây căng thẳng. Tuy nhiên, diễn biến tình hình không chỉ phụ thuộc vào các vấn đề pháp lý mà sẽ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác như tình hình nội bộ TQ, quan hệ Mỹ-Trung, chính sách của Tổng thống mới của Mỹ, Philippines, quan hệ hai bờ eo biển Đài Loan, tính đoàn kết của ASEAN….

 


Mỹ gần đây có nhiều phát biểu và hành động bày tỏ lo ngại về hành động của TQ trên Biển Đông. Ông nhận định thế nào về vai trò của Mỹ? 



Mỹ  phát biểu và hành động ở Biển Đông trước hết là vì lợi ích của họ. Có thể thấy họ ngày càng lo ngại lợi ích của mình bị ảnh hưởng. Mỹ có lợi ích ở Biển Đông trong việc duy trì trật tự quốc tế hiện hành, đảm bảo sự tuân thủ luật pháp quốc tế, không muốn Trung Quốc trỗi dậy phá vỡ luật chơi, thiết lập khu vực ảnh hưởng riêng, đẩy Mỹ ra khỏi khu vực. Mỹ cũng có lợi ích về hoạt động tự do hàng hải, hàng không, bao gồm hoạt động của tàu bè quân sự của Mỹ. Biển Đông là thuốc thử liên quan đến Trung Quốc có tuân thủ luật pháp quốc tế hay không, có phát triển hòa bình hay không nhưng cũng là thuộc thử về uy tín và cam kết quốc tế của Mỹ. Do vậy chúng ta thấy Mỹ ngày càng can dự nhiều hơn về Biển Đông, qua các phát biểu đơn phương, song phương, đa phương ở nhiều cấp khác nhau, qua các hoạt động trên thực địa như hoạt động tự do hàng hải, tập trận, cử tàu bè thăm viếng các nước xung quanh, hỗ trợ nâng cao năng lực các nước xung quanh. Vấn đề Biển Đông không chỉ là tranh chấp chủ quyền, hay tài nguyên giữa các nước ven biển mà khía cạnh cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung cũng ngày càng nổi trội. Chính sách và hành động của Mỹ là nhân tố chính buộc Trung Quốc phải tính toán kỹ hơn các bước đi của mình ở Biển Đông. 

 

Tuy nhiên, có thể thấy mức độ can dự và hiệu quả các hành động của Mỹ ở Biển Đông cũng có giới hạn. Mỹ cũng loay hoay chưa tìm ra biện pháp đối phó hữu hiệu với Trung Quốc ở Biển Đông. Các hoạt động của Mỹ tại Biển Đông được tính toán rất dè dặt. Mỹ cũng không muốn cạnh tranh ở Biển Đông làm ảnh hưởng đến hợp tác trong các khía cạnh quan hệ khác với Trung Quốc. Quan hệ Mỹ-Trung là vừa hợp tác, vừa cạnh và cả hai đều không muốn đối đầu. Thời kỳ cuối nhiệm kỳ của Tổng thống Obama sẽ mang tính “gói ghém” là chính, có thể sẽ không có bước đi mạnh mẽ mới trong chính sách của Mỹ; trường hợp Hillary Clinton thắng cử thì chính sách Tái cân bằng sang Châu Á của Mỹ có thể được tiếp tục đẩy mạnh, chính sách đối với vấn đề Biển Đông có thể có nhiều nét mới. 

 

Trân trọng cảm ơn ông. 

 

Theo Báo Lao Động