Biển Đông Tuần Qua (từ 9/3-15/3)

Trung Quốc triển khai lực lượng đồn trú tới Đảo Cây và xem xét cấp quyền lập pháp trái phép ở “Tam Sa”; Philippines đệ trình thêm nhiều bằng chứng trong vụ kiện Trung Quốc; Malaysia khẳng định sẽ thúc đẩy soạn thảo COC với Trung Quốc; Mỹ chỉ trích hoạt động xây dựng của Trung Quốc ở Biển Đông

 

Bản PDF tại đây

 

Động thái của các quốc gia

 

Trung Quốc:

 

Trung Quốc triển khai lực lượng đồn trú tới Đảo Cây. Lực lượng cảnh sát thuộc Chi đội công an biên phòng của cái gọi là “thành phố Tam Sa” cho biết từ ngày 8/3, Trung Quốc đã chính thức triển khai lực lượng đồn trú tới Đảo Cây, một đảo san hô thuộc nhóm đảo An Vĩnh trong quần đảo Hoàng Sa, nằm cách đảo Phú Lâm khoảng 9,2 hải lý về phía Bắc Tây Bắc. Mọi hành động của phía Trung Quốc nhằm xây dựng, mở rộng trái phép công trình, đưa người tới các quần đảo này không chỉ xâm phạm nghiệm trọng chủ quyền của Việt Nam, mà còn vi phạm DOC đã ký kết giữa Trung Quốc và ASEAN.

 

Trung Quốc phản ứng trước bình luận của Tổng thư ký ASEAN về đường lưỡi bò. Tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao Trung Quốc hôm 11/3, phát ngôn viên Hồng Lỗi tuyên bố: “Trung Quốc ủng hộ việc xây dựng cộng đồng ASEAN, nhưng ASEAN không phải là một bên liên quan đến tranh chấp Biển Đông. Tổng thư ký ASEAN ông Lê Lương Minh một vài lần đã đưa ranhững nhận xét thiên kiến, không chỉ không đúng với thực tế, mà còn rất không phù hợp với người giữ cương vị đó. Điều này khác xa với lập trường trung lập mà ASEAN và Ban thư ký nên duy trìtrong các vấn đề liên quan, đồng thời tổn hại hình ảnh của ASEAN là một tổ chức quốc tế trong khu vực.” Trước đó, trả lời phỏng vấn tờ Thời báo Manila hôm 4/3, Tổng thư ký ASEAN Lê Lương Minhkhẳng định rằng, ASEAN bác bỏ chính sách của Trung Quốc sử dụng “9 đường gián đoạn" để khẳng định yêu sách tại Biển Đông và “sự thù địch hay xung đột bùng phát ở khu vực sẽ ảnh hưởng xấu đến quá trình xây dựng cộng đồng của ASEAN.”

 

Trung Quốc xác nhận đang tự đóng tàu sân bay thứ hai. Phát biểu bên lề kỳ họp thường niên của Quốc hội hôm 11/3, Đại tá Lương Phương, giáo sư tại Học viện Quốc phòng Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc cho biết Trung Quốc "đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm" từ tàu sân bay đầu tiên, đồng thời xác nhận rằng nước này đang thực hiện bước tiếp theo, "Lý do chúng tôi nhập khẩu chiếc tàu sân bay đầu tiên là để có thể tự mình đóng tàu sân bay trong tương lai. Và giờ đây, đúng như một số cơ quan truyền thông tiết lộ, điều mà chúng tôi đang triển khai là đóng tàu sân bay thứ hai." Tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc mang tên Liêu Ninh, dài 300 mét, được mua lại của Ukraine và phiên chế vào tháng 9/2012.

 

Chủ tịch Trung Quốc kêu gọi quân đội thực hiện “4 toàn diện”. Phát biểu tại phiên họp của đoàn đại biểu Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc ngày 12/3 trong khuôn khổ kỳ họp quốc hội đang diễn ra, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình kêu gọi tăng cường năng lực quốc phòng và tính chiến đấu trong lực lượng vũ trang nước này thông qua việc đẩy mạnh hơn nữa sự kết hợp quân với dân. Theo ông Tập, các lực lượng vũ trang cần thực hiện đầy đủ chủ trương chiến lược “4 toàn diện” và chiến lược phát triển về sự phối kết hợp giữa quân với dân nhằm tạo ra những nền tảng mới trong việc xây dựng năng lực của PLA. “4 toàn diện”, một học thuyết chính trị do ông Tập đưa ra hồi năm ngoái, đề cập đến việc xây dựng một xã hội thịnh vượng toàn diện, cải tổ sâu sắc toàn diện, thực hiện nhà nước pháp quyền toàn diện, và thực hiện kỷ cương trong Đảng toàn diện.

 

Trung Quốc đòi xem xét cấp quyền lập pháp trái phép ở “Tam Sa”. Các nhà lập pháp Trung Quốc hôm 12/3 đòi cấp quyền lập pháp địa phương cho cái gọi là “thành phố Tam Sa” trên đảo Phú Lâm, thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Đề nghị này được trình lên Đoàn Chủ tịch của Quốc hội trong kỳ họp hàng năm để Ủy ban Pháp luật xem xét. Tại các buổi thảo luận, các đại biểu quốc hội đã đề xuất xếp thành phố Tam Sa ở cấp hành chính tương tự như 284 thành phố của Trung Quốc và hội đủ điều kiện để có quyền lập pháp. Sau khi thảo luận kỹ lưỡng, Ủy ban Pháp luật đã quyết định giữ nguyên đề nghị này. Hành động kể trên là bước đi nữa của Trung Quốc, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa.

 

Philippines:

 

Philippines quan ngại các hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông. Người phát ngôn Bộ Quốc phòng Philippines Peter Galvez hôm 9/3 cho biết hoạt động cải tạo đất của Trung Quốc có nguy cơ làm bùng phát những vụ việc ngoài ý muốn hoặc tính toán sai lầm, “Nguy cơ này ngày càng cao bởi Trung Quốc tiếp tục duy trì lập trường quyết đoán trong khu vực tranh chấp. Điều này rất đáng ngại.” Ông Galvez cảnh báo Bắc Kinh đang vi phạm Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002. Về ngân sách quốc phòng của Trung Quốc, ông Galvez cho biết việc ngân sách tăng mạnh có thể cho phép Trung Quốc tăng cường hoạt động cải tạo đất và  “Đây là mối quan tâm rất lớn không chỉ đối với khu vực mà còn đối với cộng đồng quốc tế.”

 

Philippines đệ trình thêm nhiều bằng chứng chống Trung Quốc. Ngày 11/3, Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario cho hay nước này đã hoàn tất việc chuẩn bị bản đồ, biểu đồ và văn bản tài liệu để trả lời các câu hỏi bổ sung mà tòa án quốc tế La-Hay đặt ra liên quan đến vụ kiện Trung Quốc, “Có 26 câu hỏi và chúng tôi đã trả lời toàn bộ. Chúng bao gồm bản đồ và biểu đồ. Số lượng rất lớn.".Phần phản hồi của Philippines, được hoàn tất với sự giúp đỡ của các tổ chức tư vấn pháp lý đặt tại Washington, sẽ được trình lên tòa án quốc tế vào ngày 13/3 hoặc 16/3.  Ngoại trưởng Del Rosario cho hay phán quyết có thể được đưa ra sớm nhất là trong năm 2016, “Sau ngày 16/3, chúng tôi hy vọng sẽ có một phiên xử miệng từ ngày 8-20/7 và hy vọng sau đó từ 6 đến 8 tháng, phán quyết sẽ được đưa ra.”

 

Indonesia:

 

Indonesia đánh đắm tàu cá Philippines đánh bắt trái phép. Indonesia đã đánh chìm 3 tàu cá của Philippines trong vùng biển thuộc căn cứ hải quân Indonesia ở Sorong, Tây Papua hôm 11/3. Theo Tư lệnh Bộ Tư lệnh Hạm đội Đông, Chuẩn Đô đốc Darwanto, 3 tàu này đã đi vào vùng biển của Indonesia, treo cờ Indonesia sử dụng tên Indonesia - đồng nghĩa với việc có ý định thực hiện hành vi trái pháp luật. Việc tiêu hủy các tàu này căn cứ theo Luật Thủy sản của Indonesia năm 2009, Điều 69, Khoản 4. Trước đó hôm 8/3, lực lượng bảo vệ bờ biển Indonesia đã bắt giữ 2 tàu treo cờ Singapore ở ngoài khơi đảo Batam do bị cáo buộc không có giấy phép hoạt động trong vùng biển này.

 

Malaysia:

 

Malaysia khẳng định sẽ thúc đẩy soạn thảo COC với Trung Quốc. Phát biểu tại kỳ họp Quốc hội diễn ra ở Kuala Lumpur ngày 12/3, Thứ trưởng Ngoại giao Malaysia Hamzah Zainuddin cho biết với cương vị Chủ tịch Hiệp hội ASEAN, Malaysia sẽ thúc đẩy việc soạn thảo Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông với Trung Quốc. Ông Zainuddin nhấn mạnh đó là vấn đề rất quan trọng mà các nước ASEAN thảo luận nhiều lần trong bối cảnh Trung Quốc có những hành động quyết đoán ở Biển Đông. Malaysia sẽ đóng một vai trò tích cực để đảm bảo vấn đề trên được thảo luận một cách toàn diện và hành động của các bên liên quan, kể cả Trung Quốc, phải tiến hành một cách hòa bình.

 

Ấn Độ:

 

Ấn Độ ủng hộ giải quyết hòa bình tranh chấp biển. Phát biểu trong cuộc thảo luận bàn tròn hôm11/3, đại sứ Ấn Độ tại Philippines Shri Lalduhthlana Ralte khẳng định Ấn Độ ủng hộ việc sử dụngtrọng tài để giải quyết các tranh chấp biển, “Quan điểm của chúng tôi với kiểu tranh chấp này là các bên tranh chấp phải tuân thủ pháp luật và các chuẩn mực quốc tế để giải quyết tranh chấp một cách hòa bình. Chúng ta nên tuân thủ luật pháp quốc tế.”

 

Mỹ:

 

Mỹ chỉ trích hoạt động xây dựng của Trung Quốc ở Biển Đông. Trong cuộc họp báo ngày 9/3, Người phát ngôn Bộ ngoại giao Mỹ Jen Psaki tuyên bố: “Hành động cải tạo và xây dựng đang gây những lo ngại lớn trong khu vực về ý định của Bắc Kinh, trong bối cảnh có những quan ngại rằng nước này có thể quân sự hóa các tiền đồn ở những khu vực tranh chấp trên Biển Đông. Mỹ đang theo dõi chặt chẽ những diễn biến này và tiếp tục nêu quan ngại với phía Trung Quốc, đồng thời hối thúc tất cả các bên tránh những hành động gây bất ổn. Chúng tôi khuyến khích các bên yêu sáchtheo đuổi một cách tiếp cận hòa bình đối với tranh chấp Biển Đông.”

 

Quan hệ các nước

 

Philippines và Malaysia cam kết nâng cấp quan hệ quốc phòng. Tại cuộc gặp hôm 10/3 ở thủ đô Manila, Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Voltaire Gazmin và người đồng cấp Malaysia Hishammuddin Hussein tái khẳng định cam kết nâng cấp quan hệ quốc phòng song phương. Tuyên bố chung sau đó cho hay hai bộ trưởng nhấn mạnh “Tầm quan trọng của việc thúc đẩy hòa bình, an ninh và ổn định, tự do giao thương, tự do hàng hải và hàng không trên Biển Đông. Những tranh chấp trên Biển Đông cần phải được giải quyết một cách hòa bình theo luật pháp quốc tế, trong đó cóUNCLOS 1982.”

 

Việt Nam-Philippines tăng cường hợp tác ứng phó sự cố tràn dầu trên biển. Ngày 10/3 tại Hà Nội, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam tổ chức Hội nghị song phương giữa hai nước nhằm trao đổi kinh nghiệm, đánh giá kết quả thực hiện về hợp tác trong hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu trên biển, xây dựng kế hoạch triển khai cho các năm tiếp theo. Việt Nam và Philippines đã ký Bản Thỏa thuận về hợp tác xử lý sự cố tràn dầu trên biển vào tháng 10/2010. Mục tiêu của kế hoạch phối hợp giữa hai nước nhằm tiến hành đào tạo lại, diễn tập, tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường và ứng phó, khắc phục sự cố tràn dầu trên biển. Philippines đề xuất trong thời gian tới, hai bên đào tạo sâu rộng nguồn nhân lực và tăng cường cơ chế phối hợp chia sẻ thông tin hiệu quả giữa các nước.

 

Đàm phán vòng IV Nhóm công tác về hợp tác trên biển Việt-Trung. Từ ngày 13-15/3, đàm phán vòng IV Nhóm công tác Việt Nam-Trung Quốc đã diễn ra tại Đà Nẵng. Hai bên đã trao đổi, trình bày rõ lập trường của mỗi bên về hợp tác cùng phát triển trên biển. Hai bên nhất trí tiếp tục căn cứ theo nhận thức chung có liên quan của Lãnh đạo cấp cao hai nước Việt Nam-Trung Quốc, tuân thủ Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam-Trung Quốc để thảo luận về vấn đề hợp tác cùng phát triển trên biển, phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982.

 

Khai mạc Đối thoại ASEAN-Ấn Độ lần thứ 7. Ngày 11/3, Đối thoại ASEAN và Ấn Độ lần thứ 7 với chủ đề “ASEAN-Ấn Độ: Định hình chương trình nghị sự sau năm 2015” đã khai mạc ở thủ đô New Delhi, Ấn Độ. Tham dự cuộc đối thoại có Phó Tổng Thư ký ASEAN AKP Mochtan, đại diện các nước thành viên ASEAN, các quan chức chính phủ, cùng đông đảo đại biểu các tổ chức doanh nghiệp, các học viện và các trường đại học của Ấn Độ. Phát biểu khai mạc phiên họp doanh nghiệp, Thứ trưởng Ngoại giao Ấn Độ phụ trách về phương Đông, ông Ani Wadhwa tuyên bố Ấn Độ coi ASEAN như một chiếc cầu nối tới toàn bộ khu vực Châu Á-Thái Bình Dương và tăng cường kết nối toàn diện với các nước Châu Á là một trong những ưu tiên chiến lược của Ấn Độ. Dự kiến, trong hai ngày làm việc, các quan chức chính phủ, đại biểu doanh nghiệp và các học giả hai bên sẽ cùng nhau trao đổi ý kiến, tìm kiếm cách thức tốt hơn để tăng cường quan hệ hợp tác ASEAN-Ấn Độ. Phát biểu tại Đối thoại này, Ngoại trưởng Ấn Độ Sushma Swaraj khẳng định: “ASEAN nằm ở trung tâm trong chính sách Hành động hướng Đông của Ấn Độ. Hai bên có không gian địa lý gần kề nhau, Ấn Độ và các nước thành viên ASEAN chia sẻ những thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống chung.” 

 

Phân tích và đánh giá

 

“Cần một trung tâm điều phối quốc tế ở Biển Đông” của Jeff W. Benson

 

Vào cuối năm ngoái, trong buổi điều trần trước Quốc hội Mỹ, Đô đốc Harry B. Harris - tân tư lệnh Bộ chỉ huy Thái Bình Dương - đã khẳng định: “Sự trỗi dậy của Trung Quốc trong vai trò một cường quốc quân sự ở khu vực và quyền lực kinh tế toàn cầu, đặc biệt việc nước này nhanh chóng hiện đại hóa quân sự đã tạo ra cơ hội lẫn thách thức cần phải giải quyết một cách hiệu quả. Đây là thách thức lâu dài nhất của chúng tôi”.

 

Để đối mặt thách thức đó, hải quân Mỹ cần nghiên cứu khả năng thành lập trung tâm điều phối hàng hải quốc tế (IMOC) ở Indonesia vừa để thể hiện sự cam kết của hải quân Mỹ tại châu Á - Thái Bình Dương, vừa để điều phối các hoạt động hàng hải ở Biển Đông và Ấn Độ Dương và dùng nó như một cơ chế mới để cân bằng với sự trỗi dậy của Trung Quốc.

 

Trong chiến lược tái cân bằng, Hải quân Mỹ nên thiết lập IMOC tại Jakarta để giám sát Ấn Độ Dương và Biển Đông. Cơ quan này sẽ đóng vai trò như đường dây đầu tiên để tăng cường mối quan hệ với các lực lượng hải quân Ấn Độ, Indonesia và các nước Đông Nam Á khác.

 

Trong lĩnh vực hàng hải thì mô hình trung tâm điều phối hoạt động với sự hỗ trợ của các lực lượng hải quân quốc tế là một khái niệm quen thuộc. Chẳng hạn ở Bahrain, “Lực lượng hàng hải phối hợp” là dạng quan hệ đối tác hải quân đa quốc gia của 30 quốc gia để thúc đẩy an ninh, ổn định và thịnh vượng trong lĩnh vực hàng hải.

 

Tại Norwood (Anh), Bộ tư lệnh hải quân liên minh của NATO điều hành hai tổ chức chính gồm một trung tâm điều phối hoạt động 24/7 để chỉ huy và kiểm soát các chiến dịch trên biển của NATO và một trung tâm tàu biển có nhiệm vụ phối hợp, đối thoại với giới vận chuyển trên biển về các mối đe dọa có thể có. IMOC sẽ có nhiệm vụ tương tự như vậy: đảm bảo việc giao thương biển vốn rất quan trọng ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

 

Việc lựa chọn Indonesia làm nơi đặt trung tâm cũng có lý do: Indonesia là một nước lớn trong khu vực; Tổng thống đương nhiệm Joko Widodo cũng mong muốn quốc gia của ông trở thành một cường quốc biển; vị trí của quốc gia này cũng nằm ở trung tâm giúp Hạm đội 7 của Mỹ có thể bao quát vùng biển rộng lớn nhờ liên kết với 35 quốc gia trong khu vực.

 

Mỹ đang gặp khó khăn trong chiến lược tái cân bằng tới Châu Á và kiềm chế sự trỗi dậy trên biển của Trung Quốc. Quan trọng hơn, một quốc gia đã có cam kết với các đồng minh và đối tác cần phải có các hành động trên thực tế, nếu không họ sẽ đánh mất sự tín nhiệm. Trong chuyến thăm tới Úc năm 2011, Tổng thống Obama đã nói “Trong thế kỷ 21, Mỹ sẽ dốc toàn lực cho khu vực Châu Á -Thái Bình Dương, ”. Nếu Mỹ “dốc toàn lực” trong chiến lược tái cân bằng tới Châu Á - Thái Bình Dương, lực lượng Hải quân, với sự hỗ trợ của Quốc hội và Chính quyền Obama, cần phải tìm cách hành động nhiều hơn nữa trong bối cảnh Trung Quốc thúc đẩy lợi ích và tầm ảnh hưởng của họ tại Biển Đông và Biển Hoa Đông.

 

“Chính sách của Ấn Độ trong vấn đề Biển Đông” của Ankit Panda

 

Trong một vài năm qua, Ấn Độ đã bắt đầu đề cập nhiều hơn về những gì mà họ cho là cách thức hợp lý để các bên tranh chấp Biển Đông giải quyết những bất đồng. Điều đặc biệt thú vị là những tuyên bố của New Dehli có vẻ ngày càng chi tiết và rõ ràng hơn theo thời gian.

 

Sáng 11/3, tờ Thời báo Manila đưa tin Đại sứ Ấn Độ tại Philippines Shri Lalduhthlana Ralte nói rằng Ấn Độ công khai ủng hộ luật pháp quốc tế và sử dụng trọng tài trong việc giải quyết các tranh chấp. “Quan điểm của chúng tôi với kiểu tranh chấp này là vậy, những nước có tranh chấp phải tuân thủ pháp luật và các chuẩn mực để các tranh chấp phải được giải quyết một cách hòa bình. Chúng ta nên tuân thủ luật pháp quốc tế” - tờ báo dẫn lời ông Ralte.

 

Phát biểu ​​của đại sứ Ấn Độ là ý kiến gần đây nhất trong chuỗi các tuyên bố chính trị của New Delhi bắt đầu vào năm 2013. Tại thời điểm đó, thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh trong phát biểu tại Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á đã nói rằng: “Một môi trường biển ổn định là điều cần thiết để hiện thực hóa nguyện vọng chung của khu vực”. Thêm vào đó, ông Singh cũng thể hiện sự ủng hộ đối với các tiến trình đa phương ở Đông Nam Á.

 

Đầu năm 2014, ông Shri Anil Wadhwa, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Ấn Độ, đã cho chúng ta phần nào rõ hơn về lập trường của Ấn Độ. “Chúng tôi ủng hộ việc đảm bảo các tuyến giao thương rộng mở vàtự do, và dĩ nhiên, biển, theo quy định của Công ước luật biển Liên Hiệp Quốc, phải là tài sản chung của tất cả các quốc gia sử dụng chúng” - ông phát biểu trước các phóng viên tại cuộc đối thoại Ấn Độ - ASEAN hằng năm ở New Delhi.

 

Ấn Độ vẫn giữ nguyên lập trường của mình bất chấp việc thay đổi chính phủ vào năm 2014. Nhânchuyến công du tới Mỹ của ông Narendra Modi sau khi nhậm chức, hai nước Mỹ và Ấn Độ đã lần đầu tiên đưa vấn đề Biển Đông vào trong tuyên bố chung, cụ thể là nêu sự ủng hộ đối với tự do hàng hải tại Biển Đông. Trước chuyến thăm đó, Tổng thống Ấn Độ đã tới Việt Nam và ký một tuyên bố chung với Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, cũng với nội dung tương tự. Ngoài ra, sau chuyến thăm của Tổng thống Barack Obama tới Ấn Độ tháng 1/2015, vấn đề Biển Đông một lần nữa được nhắc lại trong tuyên bố chung của hai nước.

 

Trở lại tuyên bố của Đại sứ Ấn Độ tại Philippines, chúng ta có vẻ đã phần nào biết được lập trường cuối cùng của Ấn Độ về vấn đề Biển Đông: ủng hộ phân xử quốc tế. Điều này không phải là điều gì mới mẻ hoặc bất ngờ, bởi kể từ khi Ấn Độ và Bangladesh giải quyết tranh chấp lãnh thổ trên biển giữa năm 2014 với sự trung gian của một tòa án quốc tế (trong đó phán quyết có lợi cho Bangladesh), giới quan sát đã nhận thấy sự ưu tiên của Ấn Độ đối với việc dùng đến cơ quan trọng tài.

 

Điều thú vị là các bình luận sau đó của Đại sứ Ralte: “Ngay cả nếu chúng ta là nước mạnh, về chính trị hay kinh tế, chúng ta nên tuân theo nguyên tắc được quốc tế chấp nhận”. Hàm ý của câu nói quá rõ ràng cho các nhà quan sát ở Trung Quốc. Tuy nhiên, tuyên bố của Đại sứ Ralte sẽ không mấy ý nghĩa nếu nó không được Thủ tướng Modi nhắc lại trong các chuyến thăm tới các nước tại khu vực Đông và Đông Nam Á. Ấn Độ đang ở thời điểm phải thể hiện rõ ràng việc họ muốn các sự kiện được giải quyết như thế nào ở Biển Đông. Nhìn một cách thực tế, sử dụng biện pháp trọng tài quốc tế sẽ khó có thể giải quyết các tranh chấp tại đây, nhưng việc có được sự ủng hộ rõ ràng của quốc gia Châu Á khổng lồ này sẽ tăng thêm những cái giá phải trả cho Bắc Kinh khi nước này từ bỏ những gì được coi là chuẩn mực trong khu vực.

 

“Nhật Bản tăng cường vai trò an ninh trên Biển Đông” của Tim Kelly và Nobuhiro Kubo

 

70 năm sau khi quân đội Nhật bị đánh đuổi khỏi Biển Đông, Nhật đang âm thầm quay trở lại khu vực với việc củng cố quan hệ an ninh với Philippines và Việt Nam cũng như với các nước Đông Nam Á khác nhằm đối phó với tham vọng lãnh thổ của Trung Quốc.

 

Hợp tác an ninh của Tokyo trải rộng trên rất nhiều mảng: cung cấp tàu tuần tra cho Việt Nam, Philippines, cùng với đó sẽ tổ chức cuộc tập trận chung trên biển lần đầu tiên với Philippines trong một vài tháng tới. Các bác sĩ quân đội của Nhật cũng tư vấn cho nhân viên tàu ngầm của Việt Nam về việc làm thế nào để xoay xở với bệnh giảm áp.

 

Nhật tăng dần sự hỗ trợ tại khu vực một cách có tính toán  để tránh phản ứng thái quá từ Bắc Kinh, một nguồn tin của Nhật cho biết.

 

Hợp tác với các quốc gia Đông Nam Á cũng phù hợp với chính sách an ninh cứng rắn hơn của ông Abe, người muốn nới lỏng những hạn chế của hiến pháp hòa bình thời hậu chiến của Nhât, và ăn khớp với “chiến lược tái cân bằng” của Mỹ tới Châu Á.

 

Không chỉ hợp tác với Việt Nam, một quan chức thuộc Bộ Quốc phòng Nhật cũng cho hay Bộ này đã có những cuộc đàm phán sơ bộ đầu tiên về việc hợp tác chung sản xuất vũ khí với Malaysia và Indonesia.

 

Chính quyền Abe cũng đang tìm cách xích lại gần hơn với Úc. Canberra gần đây đã cử một quan chức thuộc Bộ Quốc phòng tới Tokyo để hỗ trợ Nhật xây dựng quan hệ tại Đông Nam Á, nguồn tin của Bộ Quốc phòng Nhật cho hay. Người phát ngôn của Bộ Quốc phòng Úc nói rằng một quan chức của họ đã được cử đến Bộ Quốc phòng Nhật trong vòng 18 tháng, nhưng không cho biết chi tiết về cấp bậc của vị quan chức này.

 

Trong thời gian tới, với vị thế quốc phòng của Nhật được nâng cao, ông Abe sẽ có thể tăng cường sự can dự tại Đông Nam Á. Ví dụ, Nhật đang cân nhắc cung cấp các khoản hỗ trợ quân sự cho hoạt động mua bán vũ khí.

 

“Xu hướng này đang trở nên rõ ràng và tôi nghĩ người Nhật sẽ không dừng lại, bất chấp lo ngại từ phía Trung Quốc”, Ian Storey, chuyên gia an ninh thuộc Viện Nghiên cứu Đông Nam Á của Singapore, nhận định.

 

“Mỹ cần làm gì để Trung Quốc thay đổi chính sách ngoại giao cưỡng ép?” của Michael J. Green và Mira Rapp Hooper

 

Mỹ không phải là một bên trong tranh chấp Biển Đông, nhưng nước này có lợi ích rõ ràng trong việc đảm bảo Trung Quốc sẽ không sử dụng hành động cưỡng ép nhằm thay đổi hiện trạng. Việc tạm dừng hoạt động cải tạo đảo hay xây dựng cơ sở hạ tầng của Trung Quốc có lẽ sẽ khó khăn, tuy nhiên Mỹ có thể thực hiện một vài bước đi khác để ngăn Bắc Kinh tiếp tục chính sách cưỡng ép của mình.

 

Thứ nhất, Washington cần phải tiếp tục đầu tư vào các chương trình xây dựng năng lực với các quốc gia như Philippines và Việt Nam. Cụ thể, Mỹ nên ủng hộ nỗ lực của các quốc gia Đông Nam Á nhằm cải thiện năng lực giám sát để họ có thể hoạt động hiệu quả tại Biển Đông. Nhật và các đồng minh sẵn sàng trợ giúp với việc đầu tư cơ sở hạ tầng và chuyển giao trang thiết bị.

 

Thứ hai, Hải quân Mỹ cần chứng minh rằng các động thái của Trung Quốc sẽ không làm mất đi tự do hàng hải tại khu vực. Việc triển khai luân phiên 4 tàu chiến tới Singapore sẽ phần nào có tác dụng, nhưng những tàu này và các lực lượng khác thuộc Hạm đội 7 cần phải tăng tần suất các cuộc diễn tập quân sự với các nước đối tác tại khu vực. Bắc Kinh cần hiểu rằng việc tuyên bố vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) tại Biển Đông sẽ là điều không thể được chấp nhận.

 

Thứ ba, Mỹ cần phải trợ giúp các biện pháp ngoại giao và pháp lý mà quốc gia Đông Nam Á đang sử dụng để đương đầu với tham vọng của Trung Quốc tại Biển Đông. Mỹ từ trước đến nay vẫn khuyến khích xây dựng Bộ Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông giữa Trung Quốc và ASEAN, nhưng Bắc Kinh đang cố tìm cách làm chậm tiến trình này. Tuy nhiên, vẫn còn cơ hội để Mỹ thể hiện vai trò trong vụ kiện mà Philippines đang tiến hành. Hoạt động xây dựng của Trung Quốc có một phần nào đó nhằm tác động tới vụ kiện của Philippines đệ trình lên tòa án tại La-Hay. Washington có thể cung cấp cho tòa các thông tin chi tiết về tình trạng của các thực thể tại Trường Sa mà Trung Quốc đang cải tạo, để vụ kiện được phân xử một cách công bằng. Mỹ cũng có thể xem xét ví dụ về sáng kiến hòa bình tại Biển Hoa Đông của Đài Loan và thỏa thuận với Philippines và Nhật về chia sẻ tài nguyên và cùng khai thác. Mục tiêu của chính sách của Mỹ không phải là đánh bại chính sách ngoại giao của Trung Quốc tại Châu Á mà là sử dụng các hành động nhắc nhở và sự minh bạch để buộc Trung Quốc phải có chính sách ngoại giao có trách nhiệm hơn.

 

Mỹ đã cho thấy một vài dấu hiệu rằng họ đang đi theo những hướng này, nhưng vẫn đang còn những nghi ngại liệu đây đã phải là thời điểm thích hợp để leo thang căng thẳng với Trung Quốc hay chưa. Hoạt động gia cố thành lũy với tốc độ chóng mặt của Trung Quốc tại Biển Đông cho tất cả thấy rõ rằng, nếu Mỹ không phản ứng mạnh mẽ ngay bây giờ, chắc chắn cuộc đối đầu trong tương lai sẽ nguy hiểm hơn rất nhiều.

 

“Những thách thức đối với tham vọng trên biển của Indonesia” của Prashanth Parameswaran

 

Tầm nhìn của ông Jokowi để Indonesia trở thành một "trục biển toàn cầu" giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương đã nhận được sự quan tâm đáng kể của cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, để học thuyết biển đầy tham vọng này thành công sẽ phụ thuộc vào việc liệu Jakarta có thể thực hiện được những nhiệm vụ cơ bản như: điều phối an ninh của một trong những tuyến bờ biển dài nhất thế giới hay không? Dù đã có một số nỗ lực ban đầu nhằm giải quyết vấn đề phối hợp trên biển, song ông Jokowi đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn, trong đó vấn đề cơ bản nhất là phải quản lý không dưới 12 cơ quan hoặc có liên quan đến vấn đề an ninh biển.

 

Indonesia là quần đảo lớn nhất thế giới với hơn 18.000 đảo và gần 8 triệu km2 biển. Để quản lý, Jakarta có 12 cơ quan chịu trách nhiệm về an ninh biển, gồm: Hải quân, Cảnh sát quốc gia, Bộ Giao thông và các vấn đề Biển cùng Bộ Ngư nghiệp. Về lý thuyết, trách nhiệm của họ được phân chia theo chức năng và địa lý. Song, trên thực tế, đây là "cơn ác mộng" về hậu cần khi nhiều cơ quan khác nhau cùng cạnh tranh quyền lực và ngân sách. Theo tính toán của Siswanto Rusdi, Giám đốc Viện Nghiên cứu Biển Quốc gia, thì chi phí hoạt động cho ngành tàu biển lên tới 7 nghìn tỷ rupiah (539 triệu USD) mỗi năm.

 

Trong "Ngày Quần đảo" (Hari Nusantara) 13/12/2014, Tổng thống Jokowi đã thực hiện bước đi quan trọng khi thành lập Cơ quan An ninh Biển (BAKAMLA), trao cho cơ quan này thẩm quyền để điều phối và triển khai vật lực của các cơ quan chính phủ Indonesia - chứ không chỉ chia sẻ thông tin như cơ quan tiền thân yếu kém là Ban điều phối An ninh Biển (BAKORKAMLA).

 

BAKAMLA cũng sẽ được bổ sung đội ngũ nhân lực lớn hơn để cấu thành "lực lượng tuần duyên". Chính quyền Jokowi muốn sử dụng BAKAMLA, với nhiệm vụ ngăn chặn nạn đánh cá bất hợp pháp, như một điểm chuẩn để từ đó đánh giá năng lực hoạt động trước khi trao những nhiệm vụ lớn hơn.

 

Bất chấp sự khởi đầu đáng khích lệ đó, chính quyền Jokowi sẽ mất nhiều thời gian và công sức để đảm bảo thành công cho BAKAMLA. Trước hết, nó cần có quyền hạn lớn và rõ ràng. Việc trao quyền cũng như xác định rõ vai trò của cơ quan này với các tổ chức khác có ý nghĩa quan trọng trong quản lý an ninh biển. Văn phòng Điều phối Các vấn đề chính trị, pháp chế và an ninh đã chuẩn bị cho kế hoạch này và nhiều khả năng sẽ sớm công bố.

 

Thứ hai, cần đảm bảo BAKAMLA được cấp nhân lực và vật lực tương ứng để thực hiện đầy đủ trách nhiệm, gồm cả diễn tập và tuần tra. BAKAMLA khởi đầu với chỉ 3 tàu tuần tra và được phân bổ 520 nghìn tỷ rupiah (40 tỷ USD) trong ngân sách 2015, khá ít so với trách nhiệm của nó. Người đứng đầu quản lý hoạt động BAKAMLA, Đại tá Andi Achdar gần đây thừa nhận một cách thẳng thắn: "Chúng tôi hoàn toàn không đủ nguồn lực". Ngày 13/2 vừa qua, Hạ viện Indonesia thông qua thêm 726,3 nghìn tỷ rupiah (56 tỷ USD) ngân sách cho BAKAMLA trong ngân sách 2015. Phó chỉ huy BAKAMLA Wuspo Lukito hồi đầu tháng 2 cũng cho biết sẽ tiếp nhận 30 tàu tuần tra đóng trong nước và một số cơ quan khác cũng góp tàu. Tuy nhiên, vẫn còn cần nhiều hơn nếu BAKAMLA muốn nổi lên như một cơ quan có năng lực với 2.000 nhân viên.

 

Thứ ba, ông Jokowi và các cố vấn cần hướng tới mục tiêu tăng cường phối hợp, với mục đích cuối cùng của BAKAMLA là không chỉ hành động mà còn trở thành trung tâm tích hợp thông tin chỉ huy và hệ thống liên lạc cũng như điều tra trên biển./.

 

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG