Biển Đông Tuần Qua (từ 23/2-1/3)

Trung Quốc tuyên bố hoàn thành khảo sát trữ lượng hải sản Biển Đông; Philippines tạm dừng thăm dò dầu khí ở khu vực tranh chấp trên biển; Mỹ triển khai máy bay P-8A Poseidon tới tuần tra ở Biển Đông; Pháp-Philippines phản đối sử dụng vũ lực trong tranh chấp biển; Tàu chiến Trung-Mỹ diễn tập CUES ở Biển Đông

 

Bản PDF tại đây

 

Động thái của các quốc gia

 

Trung Quốc:

 

Trung Quốc tuyên bố hoàn thành khảo sát trữ lượng hải sản Biển Đông. Ngày 23/2 Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hải sản, thuộc Viện Khoa học Hải sản Trung Quốc ông Yang Beisheng cho hay nước này đã hoàn thành cuộc khảo sát về trữ lượng hải sản ở khu vực giữa và phía nam Biển Đông sau 2 năm nghiên cứu. Theo cuộc khảo sát, vùng biển ở Quần đảo Trường Sa của Việt Nam có 1,8 triệu tấn hải sản. Khoảng nửa triệu tấn trong số đó có thể khai thác được. Hơn 20 loài cá ở vùng biển này thuộc dạng hiếm hoặc có giá trị kinh tế cao. Trữ lượng hải sản ở vùng nước gần mặt biển tại Quần đảo Trung Sa và Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam là từ 73 triệu đến 172 triệu tấn.Viện Khoa học Hải sản Trung Quốc đã sử dụng tàu khảo sát hải sản Nam Phong để tiến hành 8 chuyến điều tra trái phép ở Biển Đông từ năm 2013.

 

Trung Quốc biện bạch hoạt động cải tạo đất ở Biển Đông. Sau khi Giám đốc Tình báo Quốc gia Mỹ chỉ trích Bắc Kinh đang tiến hành cải tạo đất ở Trường Sa, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi hôm 27/2 tuyên bố hoạt động của Bắc Kinh trên các đảo, đá và những vùng biển xung quanh là “hợp lý, chính đáng, hợp pháp, đồng thời thái độ của nước này là kiềm chế và có trách nhiệm.” Theo ông Hồng, Trung Quốc hy vọng Mỹ tôn trọng cam kết của mình, thận trọng trong các bình luận và hành động, đóng góp tích cực vào sự phát triển của quan hệ Mỹ-trung và sự ổn định, hòa bình của khu vực.

 

+ Việt Nam:

 

Việt Nam luôn tôn trọng mục đích và nguyên tắc Hiến chương Liên Hợp Quốc. Ngày 23/2, tại trụ sở chính của Liên Hợp Quốc (LHQ), Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đã tổ chức phiên thảo luận mở về chủ đề: “Duy trì hòa bình và an ninh quốc tế: Suy ngẫm về lịch sử, tái khẳng định cam kết mạnh mẽ đối với các mục đích, nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc.” Phát biểu tại phiên thảo luận, Đại sứ Nguyễn Phương Nga, Trưởng Phái đoàn đại diện thường trực Việt Nam tại LHQ, khẳng định các nước thành viên LHQ cần tăng cường và hiện thực hóa cam kết đối với các nguyên tắc quan trọng của Hiến chương LHQ, trong đó có các nguyên tắc về bình đẳng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, và giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế. Điều đó cần được triển khai bằng các hành động cụ thể, trong đó có việc xây dựng, tuân thủ các nguyên tắc chuẩn mực về ứng xử giữa các quốc gia.

 

+ Philippines:

 

Philippines tạm dừng thăm dò dầu khí ở khu vực tranh chấp trên Biển Đông. Phát biểu với báo chí, Bộ trưởng Năng lượng Philippines Carlos Jericho Petilla khẳng định các cơ quan chính phủ có liên quan đã đồng ý rằng các hoạt động thăm dò ở khu vực Bãi Cỏ Rong cần được đình chỉ cho đến mùa hè năm nay. Theo ông Petilla, quyết định tạm hoãn thăm dò có thể sẽ mở đường cho các cuộc đàm phán giữa Philippines với Trung Quốc để giải quyết tranh chấp. Nếu không có vấn đề gì, Bộ Năng lượng sẽ yêu cầu Bộ Ngoại giao, cơ quan khởi xướng việc đình chỉ, bãi bỏ lệnh cấm để công việc thăm dò được tiếp tục.

 

+ Mỹ:

 

Mỹ đưa máy bay hiện đại tới tuần tra ở Biển Đông. Hải quân Mỹ ngày 26/2 cho biết đã bắt đầu triển khai máy bay trinh sát P-8A Poseidon tới Philippines để tiến hành các nhiệm vụ tuần tra ở Biển Đông. Trong vòng 3 tuần kể từ 1-21/2, máy bay P-8A đã thực hiện hơn 180 giờ bay tuần tra trên Biển Đông. Đại úy Hải quân Mỹ Matthew Pool, chỉ huy Phi đội máy bay tuần tra số 4, cho biết, “Đây là một cơ hội tốt để chúng tôi có thể hợp tác với quân đội Philippines. Việc chia sẻ năng lực của chiếc máy bay này với đồng minh của chúng tôi sẽ giúp tăng cường sự hợp tác giữa hai bên.”

 

Mỹ chỉ trích hoạt động cải tạo đất của Trung Quốc ở Biển Đông. Phát biểu tại buổi điều trần hôm 26/2 về các mối đe dọa an ninh toàn cầu, Giám đốc Tình báo Quốc gia Mỹ James Clapper tuyên bố Trung Quốc đang mở rộng các tiền đồn ở Biển Đông bao gồm các bến tàu và sân bay, “Mặc dù Trung Quốc đang tìm kiếm mối quan hệ ổn định với Mỹ, nước này sẵn sàng chấp nhận những căng thẳng song phương và khu vực để theo đuổi lợi ích, đặc biệt là về vấn đề chủ quyền biển.” Theo ông Clapper, yêu sách đường 9 đoạn của Trung Quốc là “quá đáng.” Trong khi đó, Chủ tịch Ủy ban Quân vụ Thượng viện Mỹ Thượng nghị sĩ John McCain, đưa ra những hình ảnh vệ tinh thương mại cho thấy Trung Quốc tiến hành hoạt động mở rộng đá Gaven trong năm 2014. Ông cho biết động thái của Trung Quốc có thể cho phép Bắc Kinh triển khai các loại vũ khí ở đây.

 

Quan hệ các nước

 

Tàu chiến Trung-Mỹ diễn tập CUES ở Biển Đông. Tàu tuần duyên USS Fort Worth của hải quânMỹ và tàu khu trục nhỏ Hoành Thủy lớp Giang Khải II của hải quân Trung Quốc đã tình cờ giáp mặt tại vùng biển quốc tế ở Biển Đông ngày 23/2. Hạm đội 7 Hải quân Mỹ cho biết hai bên khi đó đã tiến hành diễn tập “Quy tắc Ứng xử khi Chạm trán bất ngờ trên biển” (The Code for Unplanned Encounters at Sea – CUES). Hai tàu sử dụng CUES với quy ước tín hiệu thông báo về hoạt động của mỗi bên. Thuyền trưởng tàu tuần duyên USS Fort Worth Matt Kawas cho biết, sự tương tác an toàn và có tính chuyên nghiệp giữa hai tàu tàu đáng được khen ngợi. Mỹ và Trung Quốc ký CUES tại Diễn đàn hải quân Tây Thái Bình Dương ở Thanh Đảo vào tháng 4 năm 2014 để tránh các vụ va chạm trên biển ngoài ý muốn.

 

Tư lệnh Lực lượng Phòng vệ biển Nhật Bản thăm Philippines. Đô đốc Tomohisa Takei đã tới Philippines trong khuôn khổ chuyến thăm kéo dài 4 ngày từ 23-26/2. Ngày 24/2, Đô đốc Takei đã có cuộc gặp với Phó Tổng tham mưu trưởng Các lực lượng vũ trang Philippines, Trung tướng Virgilio Doming để thảo luận những quan ngại về nhận thức và các thách thức an ninh biển ở Biển Đông. Theo kế hoạch, ngày 25/2, Đô đốc Takei sẽ tới thăm một doanh trại quân đội trên đảo Palawan ở miền Trung Philippines.

 

Thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc phòng Việt Nam-Malaysia. Bộ trưởng Quốc phòng MalaysiaDato’ Seri Hishammuddin Tun Husein đã thăm chính thức Việt Nam từ ngày 24-25/2. Sáng 25/2, Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã có cuộc hội đàm với Ngài Dato’ Seri Hishammuddin Tun Husein. Hai bên đánh giá kết quả hợp tác quốc phòng song phương thời gian qua trên cơ sở bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng ký năm 2008. Thời gian tới, Bộ Quốc phòng hai nước tiếp tục thúc đẩy quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực: trao đổi đoàn, cứu hộ cứu nạn, hải quân, hợp tác đào tạo.

 

Pháp-Philippines phản đối sử dụng vũ lực trong tranh chấp biển. Trong chuyến thăm 2 ngày tới Philippines, Tổng thống Pháp Francois Hollande đã có cuộc hội đàm với Tổng thống Philippinese Benigno Aquino hôm 26/2. Tuyên bố chung đưa ra sau cuộc gặp nhấn mạnh: “Đối với vấn đề hòa bình và an ninh quốc tế, hai nhà lãnh đạo khẳng định lập trường là phản đối bất cứ nước nào dùng hình thức đe dọa hay sử dụng vũ lực để xâm chiếm hoặc yêu sách lãnh thổ của nước khác, vi phạm luật pháp quốc tế, đặc biệt là Hiến chương của Liên Hợp quốc. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình và ổn định ở Đông Á, thúc đẩy an ninh biển, tự do hàng hải và giải quyết hòa bình các tranh chấp phù hợp với luật pháp quốc tế.” Hai nhà lãnh đạo cũng kêu gọi các bên thực thi đầy đủ và hiệu quả DOC và sớm tiến tới hoàn tất COC ở Biển Đông.”

 

Phân tích và đánh giá

 

“Việt Nam và Philippines: Hướng tới Đối tác Chiến lược” của Julio S. Amador III và Jeremie P. Credo

 

Duy trì mối quan hệ song phương ổn định kể từ khi quan hệ ngoại giao được thiết lập vào năm 1976, hiện Philippines và Việt Nam đang tiến hành các vòng đàm phán cấp cao nhằm thiết lập quan hệ đối tác chiến lược.

 

Vào tháng 5/2014, Tổng thống Benigno S. Aquino III và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đề cập về ý định thiết lập quan hệ đối tác chiến lược giữa hai quốc gia. Tháng 11, bên lề Hội nghị các nhà lãnh đạo APEC lần thứ 22 tại Bắc Kinh, Trung Quốc, Tổng thống Aquino và Chủ tịch Trương Tấn Sang nhất trí thiết lập một Ủy ban Công tác Chung để bắt đầu các cuộc thảo luận về lộ trình hướng tới mối quan hệ đối tác chiến lược.

 

Vậy nội hàm của quan hệ đối tác chiến lược trong tương lai là gì? Với rất nhiều các vấn đề chung mà họ đang phải giải quyết, cùng với đó là nhiều thỏa thuận mà họ đang tham gia, cả hai quốc gia đều ủng hộ mạnh mẽ cho an ninh và ổn định tại khu vực, đặc biệt là trong bối cảnh các công cụ hay cơ chế liên quan tới ngăn chặn xung đột trên biển đang ngày càng kém hiệu quả trước những hành động đơn phương của Trung Quốc. Do đó, ASEAN cần phải hoàn tất Bộ Quy tắc Ứng xử có ràng buộc pháp lý tại Biển Đông với Trung Quốc.

 

Một khi hai bên nâng tầm quan hệ lên đối tác chiến lược, Philippines và Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội hợp tác hơn nữa. Trong đó bao gồm tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực như nông nghiệp, tìm kiếm và cứu nạn, bảo vệ môi trường biển, và ứng phó sự cố tràn dầu. Giải quyết các vấn đề khu vực sẽ là ưu tiên quan trọng cho việc nâng tầm quan hệ, do vậy hai bên sẽ hợp tác chặt chẽ hơn trong các vấn đề quân sự và các vấn đề trên biển. Tuy nhiên, hợp tác chính trị, quốc phòng và an ninh không hẳn đã là mục tiêu chính của Việt Nam và Philippines. Mục tiêu bao trùm của đối tác chiến lược đó là cải thiện quan hệ tổng thể giữa hai quốc gia và nâng cao điều kiện sống của người dân.

 

Việc nâng tầm quan hệ song phương cũng có nghĩa là trách nhiệm lớn hơn sẽ đặt lên vai Philippines và Việt Nam. Cả hai quốc gia cần phải phối hợp trong việc lên kế hoạch và thực thi thỏa thuận đối tác chiến lược, bởi lợi ích của cả hai còn song trùng ở nhiều lĩnh vực khác. Tuy nhiên, có một thách thức quan trọng cần phải giải quyết nếu hai nước muốn nâng quan hệ lên một tầm cao mới.

 

Cụ thể, với Philippines, cơ sở cho quan hệ đối tác chiến lược không chỉ dựa trên sự thống nhất trong quan điểm về các vấn đề chiến lược mà còn dựa trên cả các giá trị và nguyên tắc chung, điều đó có nghĩa rằng không thể thiết lập quan hệ đối tác chiến lược trên cơ sở những tính toán ngắn hạn. Việt Nam và Philippines cần phải giải quyết triệt để vấn đề này nếu không mối quan hệ đối tác chiến lược đang manh nha sẽ là một mối quan hệ không có chiều sâu và không thể được thực thi một khi khi làn gió ngoại giao đổi chiều.

 

“Vì sao Trung Quốc tăng tốc xây chuỗi đảo nhân tạo trên Biển Đông” của Keith Johnson

 

Theo các bức ảnh chụp từ vệ tinh do IHS Jane đưa ra gần đây, người ta dễ dàng nhận thấy Trung Quốc đang tiến hành xây dựng và mở rộng chuỗi đảo nhân tạo thuộc quần đảo Trường Sa với tốc độ chóng mặt bằng cách xây dựng tại đây các đường băng, doanh trại quân sự hay bến cảng có quy mô tương đối đồ sộ.

 

Động thái này buộc giới chuyên gia phải đặt câu hỏi quanh việc Trung Quốc sử dụng các đảo nhân tạo này để làm gì? Và liệu các công trình đó có đủ khả năng làm thay đổi luật pháp quốc tế cũng như diện mạo địa chính trị của Châu Á - Thái Bình Dương hay không?

 

"Nếu Trung Quốc thật sự có thể xây dựng đường băng cùng các kiến trúc khác trên những đảo nhân tạo nước này đang cải tạo thì tuyên bố chủ quyền của họ đối với các vùng biển sẽ được củng cố mạnh mẽ ", ông James Holmes, giáo sư chiến lược tại Đại học Hải chiến Mỹ, nhận định.

 

Ông M. Taylor Fravel, chuyên gia về chính sách biển Trung Quốc tại Viện Công nghệ Massachusetts thì đánh giá, bằng cách biến bãi đá thành căn cứ quân sự, Trung Quốc sẽ dễ dàng hơn trong việc điều động các đội tàu của Cảnh sát Biển hay tàu chiến tại những vùng biển cách xa bến cảng của nước này, từ đó gia tăng áp lực lên các nước láng giềng.

 

Trung Quốc có nguy cơ sẽ lặp lại hành động mùa hè năm ngoái, khi nước này hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 (HD-981) trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam suốt hơn hai tháng. Giả thiết này có vẻ sẽ sớm thành hiện thực với việc Bắc Kinh vừa công bố phát hiện một mỏ khí thiên nhiên "trữ lượng lớn" trên Biển Đông.

 

Về góc độ an ninh, hoạt động xây dựng với tốc độ chóng mặt của Trung Quốc có thể không mang lại những lợi thế quá lớn, giống như những gì đã xảy ra tại Biển Hoa Đông với việc thiết lập Vùng Nhận dạng Phòng không (ADIZ).

 

“Những tiền đồn này không giúp Trung Quốc có đủ điều kiện để thiết lập ADIZ tại khu vực”, ông Fravel cho biết, bởi radar chỉ được đặt ở tầm thấp và thiếu những đường băng gần đó. Những gì mà các đảo nhân tạo này mang lại đó là chỉ tạo ra thêm một mục tiêu cố định cho các quốc gia đối đầu với Trung Quốc trong trường hợp tình hình xấu đi ngiêm trọng. “Nói trên góc độ quân sự, những tiền đồn này rất dễ tổn thương nếu bị tấn công, bởi chúng là những mục tiêu cố định và không có đủ năng lực phòng thủ cần thiết,” ông Fravel cho biết.

 

Cũng không có khả năng việc biến một thực thể chìm trở thành một đảo nhân tạo sẽ thay đổi được các đặc trưng pháp lý. Hầu hết các học giả về luật quốc tế đều nhất trí rằng việc thay đổi các thực thể tự nhiên không mang lại cho chúng những quyền lợi pháp lý.

 

Tuy nhiên, dù cho hoạt động cải tạo của Trung Quốc có tăng thêm sức nặng cho các lập luận pháp lý của họ hay không, hoạt động này cũng đã nhanh chóng tạo nên một thực trạng mới, ngay cả khi Washington vẫn đang hối thúc một giải pháp ngoại giao cho tranh chấp biển và các bên có yêu sách như Philippines vẫn đợi phán quyết của tòa án.

 

“Nếu các quốc gia này không thể bảo vệ yêu sách của họ, họ sẽ làm gì?”, ông Holmes đặt câu hỏi. “Và nếu họ không thể làm gì, theo thời gian, những thực trạng mới này sẽ quyết định tập quán quốc tế, và thậm chí là cả luật quốc tế. Và đây là điều mà Bắc Kinh mong muốn.”

 

“Ngoài ASEAN, Liệu Châu Á có cần một Tổ chức Mới để Quản lý Biển?” của Prashanth Parameswaran

 

Tại một diễn đàn diễn ra tháng trước ở Tokyo, ông Ken Sato, Giám đốc Viện Nghiên cứu Chính sách Quốc tế (Institute for International Policy Studies - IIPS) nhận định rằng, Đông Á vẫn chưa có một cơ quan thường trực hoặc tổ chức khu vực để giải quyết các vấn đề an ninh biển. Trong bài phát biểu khai mạc Diễn đàn về Cấu trúc An ninh Biển Mới ở Đông Á do IIPS tổ chức ngày 30 tháng 1, ông Sato đã đề xuất thành lập một cơ quan mới dự kiến ​​lấy tên là Tổ chức An ninh và Hợp tác Biển Châu Á (Asia Maritime Organization for Security and Cooperation - AMOSC) với mục tiêu là ngăn chặn và quản lý tranh chấp biển hiện nay giữa các quốc gia bằng cách nâng cao nhận thức biển của khu vực, tăng cường xây dựng năng lực và đề ra các biện pháp xây dựng lòng tin.

 

Trong khi nỗ lực nhằm giảm bớt tranh chấp biển là đáng khen ngợi, những người đã quen với các cuộc tranh luận trước đây về việc xây dựng thể chế khu vực sẽ ngay lập tức nhận ra các đề xuất mới như vậy thường đặt ra một số vấn đề không mới và khá bất tiện về mặt thủ tục, phong cách và tính thực chất.

 

Vấn đề đầu tiên đặt ra là tổ chức mới liệu có thực sự giúp quản lý các tranh chấp lãnh thổ hết sức gay gắt hiện nay hay không. Việc Trung Quốc trì hoãn xây dựng một quy tắc ứng xử (CoC) ở Biển Đông với các quốc gia Đông Nam Á - bao gồm việc nước này gần đây cố gắng ngăn chặn đưa vấn đề ra thảo luận ở các diễn đàn đa phương - cho thấy yếu tố thực sự ngăn cản việc giải quyết tranh chấp là do thiếu thiện chí chính trị, chứ không phải thiếu vắng các thể chế. Nếu tính đến các chiến thuật khôn ngoan mà Trung Quốc đang sử dụng để trì hoãn quá trình giải quyết vấn đề ở các thể chế hiện có, liệu một thể chế mới có thể giúp cải thiện vấn đề hay không là điều còn chưa rõ ràng.

 

Ngay cả khi vượt qua được suy nghĩ bi quan này, nhu cầu về một tổ chức mới ít nhất cũng là đề xuất gây nhiều tranh cãi bởi hiện tại có khá nhiều tổ chức khu vực ở Châu Á-Thái Bình Dương. Bắng cách này hay cách khác, các tổ chức như Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN Mở rộng (ADMM+) hiện đang xử lý vấn đề an ninh biển. Diễn đàn Biển ASEAN Mở rộng mới thành lập gần đây, trong đó bao gồm 10 quốc gia Đông Nam Á cùng với Úc, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, New Zealand, Hàn Quốc, Nga và Mỹ, tập trung sâu hơn vào các vấn đề trên biển. Trên thực tế, những nhà ngoại giao Châu Á đang chịu trách nhiệm xử lý những thể chế tăng trưởng ngày một nhanh này đã nhấn mạnh đến việc hài hoà các tổ chức trên để tránh sự trùng lặp không cần thiết.

 

Cuối cùng, cũng giống các đề xuất trước đây như AMOSC, nói thì dễ nhưng việc thực hiện lại vô cùng khó. Ví dụ, việc AMOSC tập trung vào các vấn đề cụ thể là giải quyết hoặc quản lý các tranh chấp biển có thể khiến một số quốc gia - bao gồm các bên yêu sách tiềm tàng ở Biển Đônglà Malaysia và Brunei - phần nào không thoải mái bởi những nước này có xu hướng muốn giải quyết vấn đề như là một phần trong một cuộc đối thoại tổng thể, chứ không phải tách riêng vấn đề nhằm giảm bớt việc nảy sinh các đối đầu.

 

Vì AMOSC mới chỉ là một đề xuất, người ta có thể cân nhắc những lo ngại nói trên và tìm cách để biến ý tưởng đó thành hiện thực. Ví dụ, một đại biểu Đông Nam Á tham dự diễn đàn cho rằng AMOSC có thể bắt đầu như một nhóm không chính thức và theo thời gian dần chuyển thành một cơ quan chính thức giống như cách mà Hội nghị Hợp tác Kinh tế Thái Bình Dương cuối cùng đã mở đường cho việc hình thành tổ chức Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương chính thức vào năm 1989. Cũng có thể hội nhập một số cơ chế bên trong khuôn khổ hiện hành của ASEAN, mặc dù theo tình hình hiện nay có lẽ phải cần thêm sự sáng tạo mới làm được điều này.

 

Nói thẳng ra, thách thức ở đây đó là thời gian sẽ không chờ đợi bất kỳ ai. Trong khi chúng ta tranh luận về giá trị của các tổ chức mới, Trung Quốc, như tôi đã từng đề cập trước đây, đang tích cực thay đổi nguyên trạng theo hướng có lợi cho mình, với các dự án cải tạo đất trên quy mô lớn là biểu hiện gần đây nhất cho một khuynh hướng lớn hơn. Các chi tiết về đề xuất trên có lẽ sẽ được nêu ra trong một báo cáo sẽ được công bố vào cuối tháng Ba. Hiện tại, người ta phải chờ xem liệu AMOSC sẽ thành công hay thất bại. Nhưng ít nhiều nó sẽ gây xáo động ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương vốn đã nhiều sóng gió.

 

“Các nước láng giềng Trung Quốc củng cố sức mạnh quân sự” của Trefor Moss

 

Trung Quốc đã có bước chuyển ngoại giao quan trọng tại hội nghị thượng đỉnh tại Bắc Kinh hồi tháng 11, họ áp dụng một giọng điệu mềm mỏng hơn, trong đó có cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa Chủ tịch Tập Cận Bình và Thủ tướng Shinzo Abe kể từ khi hai ông lên cầm quyền vào năm 2012. Tuy nhiên, các nước láng giềng của Trung Quốc vẫn đang tiếp tục các chương trình hiện đại hóa quân sự của mình với việc mua sắm máy bay, tàu ngầm và các loại khí tài mới, ngay cả khi Trung Quốc tìm cách hạ nhiệt căng thẳng tại khu vực.

 

Các quốc gia với trang bị tiên tiến, như Ấn Độ và Nhật, muốn Trung Quốc trân trọng họ như là những đối trọng quân sự só sức mạnh tương đương. Ấn Độ đang thiết lập một quân đoàn sơn chiến mới triển khai dọc biên giới Himalaya. Nước này cũng đang thử nghiệm tên lửa đạn đạo với tầm bắn 3000 dặm, có thể tấn công vào trong lòng Trung Quốc. Trong tháng 1, lần đầu tiên Ấn Độ bắn thử một trong những tên lửa của họ từ một bệ phóng di động đặt tại một đảo bên ngoài bờ biển phía đông bắc. Tokyo đang xây dựng đơn vị tác chiến đổ bộ đầu tiên để bảo vệ các đảo tại Biển Hoa Đông đang có tranh chấp với Trung Quốc và bổ sung thêm 42 máy bay tàng hình F-35 Lightning II. Nhật cũng tăng ngân sách quốc phòng thêm 2% trong năm tài khóa bắt đầu từ ngày 01/4.

 

Các quốc gia nhỏ như Việt Nam, Philippines không hy vọng có thể thách thức trực tiếp tới quân đội Trung Quốc, nhưng họ cũng muốn Trung Quốc phải cân nhắc kỹ càng trước khi thúc đẩy yêu sách của mình. Việt Nam gần đây đã nhận tàu thứ 3 trong số 6 tàu ngầm từ Nga, tổng trị giá khoảng 2 tỉ USD – bước ngoặt cho quốc gia trước đây chưa bao giờ sỡ hữu tàu ngầm. Họ cũng đặt hàng thêm 6 tàu khu trục và đang mở rộng quy mô của đội máy bay Sukhoi lên 36 chiếc.

 

Philippines cũng đặt hàng một số máy bay chiến đấu của Hàn Quốc trị giá 410 triệu USD, và dành 1,8 tỉ USD cho việc mua sắm các khí tài mới trong 2 năm tới, bao gồm cả các tàu khu trục. Malaysia cũng tham gia vào thị trường mua sắm các loại máy bay chiến đấu mới và gần đây đã nhận cặp tàu ngầm đầu tiên được mua từ Pháp với giá khoảng 2,2 tỉ USD. Indonesia có kế hoạch đặt các tàu ngầm mới mua từ Hàn Quốc và các tàu chiến Apache của Mỹ tại khu vực gần với các đảo dễ bị tổn thương trước các động thái xâm nhập từ Trung Quốc.

 

Đương nhiên, Trung Quốc không phải là lý do duy nhất khiến các quốc gia Châu Á chi tiêu nhiều hơn vào quốc phòng. Đặc biệt là tại Đông Nam Á, các quốc gia ở đây vốn có năng lực quân sự yếu kém, cần phải mua sắm thêm các trang thiết bị mới để duy trì hoạt động. Nhiều nước tại Châu Á cũng là đối thủ của nhau. Nhưng xét một cách tổng thể, hoạt động mua sắm quân sự tại Châu Á có thể sẽ khiến gia tăng nguy cơ về một cuộc đối đầu chết chóc trong trường hợp căng thẳng leo thang.

 

Theo một số chuyên gia, với việc các nước tại khu vực gia tăng sức mạnh quân sự, Trung Quốc có thể sẽ thay đổi các toan tính chiến lược của mình, họ có thể sẽ dễ dàng hơn trong việc chấp nhận đàm phán giải quyết tranh chấp. “Trung Quốc không hề muốn bị bao quanh bởi các quốc gia có quân đội hiện đại, tinh nhuệ”, ông Richard Javad Heydarian, giáo sư khoa học chính trị tại Đại học La Salle, Manila cho biết. Với việc các quốc gia láng giềng nâng cấp quân đội, “Trung Quốc sẽ phải đối mặt với những nguy cơ lớn hơn tới từ các căng thẳng leo thang ngoài ý muốn hay các hành động phản kháng.”

 

“Biển Đông và chiến lược biển mới của Indonesia” của Subhash Kapila

 

Để ứng phó một cách có chiến lược với chiến thuật leo thang căng thẳng của Trung Quốc tại Biển Đông, Tổng thống mới đắc cử của Indonesia, ông Joko Widodo, đã công bố Chiến lược Biển mới vào tháng 11/2014.

 

Về cơ bản, Chiến lược Biển mới của Indonesia triển khai trên 3 lĩnh vực sau. Thứ nhất, ở giai đoạn đầu, gần 6 tỉ USD đã được dành cho quá trình nâng cấp các căn cứ và cảng hải quân, cùng với đó là thiết lập các căn cứ hải quân mới. Thứ hai, quần đảo Natuna với vị trí chiến lược đang được phát triển thành một căn cứ quân sự lớn dành cho Hải quân và Không quân. Thứ ba, Indonesia bắt đầu mở rộng lực lượng hải quân với việc đặt hàng 2 tàu khu trục từ Hà Lan, 3 tàu hộ tống từ Anh và 3 tàu ngầm từ Hàn Quốc. Sẽ còn nhiều chương trình mua sắm khác trong tương tai.

 

Tác động của Chiến lược Biển mới của Indonesia có thể được phân tích một cách chiến lược dưới góc độ khu vực và quốc tế đặt trong bối cảnh leo thang tranh chấp tại Biển Đông.

 

Tại khu vực, đối với tham vọng trên Biển Đông của Trung Quốc, Indonesia hiện đã không còn đứng ngoài lề với tư duy “không can thiệp”. Điều này sẽ củng cố tính đoàn kết của ASEAN trong việc kiềm chế chính sách bên miệng hố chiến tranh của Trung Quốc tại Biển Đông.

 

Liên quan đến tình hình leo thang tranh chấp tại Biển Đông do Trung Quốc gây ra, Việt Nam và Philippines, các quốc gia đang là nạn nhân của sự hung hăng tới từ Trung Quốc, sẽ phần nào an tâm hơn với việc Indonesia từ bỏ “Chiến lược không can thiệp”. Một cách logic, chúng ta có thể hy vọng vào một thời điểm nào đó trong tương lai gần, sẽ có một chiến lược biển tổng thể dành cho Biển Đông của 3 quốc gia Việt Nam, Philippines và Indonesia.

 

Xét trên bình diện toàn cầu, Mỹ, Ấn Độ, Úc và Ấn Độ sẽ ủng hộ sự trỗi dậy của Indonesia với vị thế là một cường quốc biển, bởi điều này có những tác động tích cực đến tình hình tại Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Với sức mạnh tổng hợp hiện có tại khu vực giữa những quốc gia Ấn Độ - Thái Bình Dương trên, việc có thêm sự tham gia của Indonesia sẽ cải thiện cho sức mạnh và năng lực trên biển của họ.

 

Trung Quốc có thể sẽ là quốc gia bị ảnh hưởng đáng kể bởi bước chuyển này sẽ tạo ra một sức mạnh trên biển rõ ràng tại Ấn Độ Thái Bình Dương nhằm đối trọng lại các toan tính của Trung Quốc tại Biển Đông hay xa hơn nữa là Ấn Độ Dương.

 

Cách nhau chỉ khoảng 100km, Ấn Độ và Indonesia có thể sẽ còn có sức mạnh tổng thể chiến lược lớn hơn nhiều khi họ củng cố mối quan hệ chiến lược của mình, vốn đã bị xem nhẹ trong những năm qua.

 

Có thể nói việc Indonesia nâng tầm sức mạnh và năng lực trên biển lẽ ra đã phải được tiến hành sớm hơn. Chính việc Indonesia hiểu sai ý đồ của Trung Quốc tại Biển Đông đã lãng phí những năm qua của nước này. Tổng thống Jokowi đã có những bước đi táo bạo nhằm bước đầu hiện đại hóa và mở rộng năng lực của hải quân Indonesia, và chiến lược này được kỳ vọng sẽ khôi phục lại sự cân bằng chiến lược không chỉ ở Biển Đông mà còn ở cả khu vực phía đông Ấn Độ Dương./.

 

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG